Nguyên nhân nào gây bại não ở trẻ?

Bại não là một thuật ngữ thường dùng để diễn đạt một nhóm các tình trạng bệnh mãn tính ảnh hưởng đến vận động và sự phối hợp cơ bắp. Bại não do các thương tổn một hoặc nhiều vùng của não, thường xảy ra trong quá trình phát triển của thai nhi, trước, trong hoặc sau sinh một thời gian ngắn, hoặc trong thời kỳ trẻ nhỏ. Bại não là một bệnh không tiến triển, không lây. Việc tập tành và lý liệu pháp có thể cải thiện chức năng vận động.

Lịch sử bệnh

Vào những năm 1890, William Little, phẫu thuật viên người Anh, đã biểu thị một trường hợp trước tiên về rối loạn khó chữa ảnh hưởng đến trẻ thơ trong những năm trước tiên gây nên những cơn co cứng ở hai chi dưới, chừng độ giảm hơn ở hai chi trên. Những trẻ này thường khó cầm đố vật, bò hoặc bước đi và không tiến triển khi trẻ lớn lên. Tình trạng này được gọi là bệnh Little trong nhiều năm, hiện thời gọi là liệt hai chi dưới co cứng. Đây là một trong những rối loạn ảnh hưởng đến kiểm soát vận động do thương tổn não và được xếp vào thuật ngữ bại não. Vì hồ hết các trẻ bại não được sinh non tháng hoặc thiếu oxy trong lúc sinh. Tác giả cho là tình trạng thiếu oxy đã làm tổn thương các mô não liên tưởng trong kiểm soát vận động.

Năm 1987, nhà tâm thần học nổi tiếng Freud Sigmund cũng đồng ý với nhận xét của Little. Đáng lưu ý là những trẻ bại não thường có các biểu hiện khác như: chậm phát triển thần kinh, co giật và rối loạn thị giác.

Nguyên nhân nào  gây bại não ở trẻ? Các thương tổn não xảy ra khi thai nhi còn nằm trong tử cung hoặc trong khi sinh chiếm 70%

căn nguyên của bệnh bại não

Bại não không phải là một rối loạn do một căn do độc nhất vô nhị. Đây là một nhóm c ác rối loạn kiểm soát vận động giống nhau với nhiều nguyên do khác nhau.

Bại não bẩm sinh do các tổn thương não xảy ra khi thai nhi còn nằm trong tử cung hoặc trong khi sinh (chiếm 70%).

Các thương tổn não xảy ra ở trẻ trước 5 tuổi, sau các nhiễm khuẩn thần kinh thi bằng lái xe máy a1 hay chấn thương sọ não.

Các nguyên nhân gây bại não:

- Nhau thai thất thường không cung cấp đủ oxy và chất dinh dưỡng cho thai nhi.

- dị đồng nhóm máu giữa mẹ và con.

- Mẹ mắc các bệnh truyền nhiễm trong thai kỳ đầu.

- Trẻ đẻ thiếu tháng hoặc đẻ thấp cân.

- Thiếu oxy kéo dài trong khi sinh hoặc vàng da nặng sau sinh.

hầu hết các trẻ bại não được sinh non tháng hoặc thiếu oxy trong lúc sinh

Dấu hiệu sớm của bại não

Các dấu hiệu sớm của bại não thường khởi đầu trước 18 tháng tuổi. bác mẹ là người trước tiên cho rằng trẻ không phát triển được kỹ năng vận động bình thường. Trẻ chậm lẫy, chậm bò, chậm biết đi so với mốc phát triển thường nhật.

Trẻ bị giảm trương lực cơ: chi mềm nhũn, buông thõng, hoặc tăng trương lực cơ: trẻ cứng đờ hoặc vận động cứng nhắc.

Dấu hiệu lâm sàng

Thể co cứng (chiếm 70 - 80% các trường hợp): các cơ cứng nhắc và co cứng thẳng băng. Co cứng 2 chân hoặc nửa người, hay gặp nửa người trái.

Thể loạn trương lực (chiếm 10 - 20% các trường hợp): có những vận động thất thường ở 2 chân và 2 tay. Mặt nhăn nhó, nói khó, chảy nước dãi (là vận động bất thường ở mặt, lưỡi và cơ phát âm, tuy nhiên ít gặp). Các vận động thất thường này mất khi đi ngủ. Ở trẻ lớn biểu hiện viết chậm, không kiểm soát được động tác.

Thể thất điều (chiếm 5 - 10% các trường hợp): bước đi khó khăn, choạng vạng, khó thực hiện động tác xác thực. Run tay, run chân.

Ảnh hưởng của bại não

Tùy theo vùng não bị thương tổn mà trên lâm sàng trình diễn.# các triệu chứng đa dạng: co cứng gấp, nuốt khó, nói khó, rối loạn phong thái hoặc vận động. Có thể rối loạn chức năng các giác quan: điếc, mất ngửi, giảm nhãn quang. thỉnh thoảng: co giật, chậm phát triển thần kinh, thất thường về hô hấp, rối loạn đái ỉa. mất khả năng học tập.

Vấn đề điều trị

đẵn là quá trình coi sóc trẻ, giúp trẻ phát triển tối đa. Điều này cần bắt đầu từ rất sớm ngay khi phát hiện bệnh của trẻ.

Trẻ cần được chăm chút kết hợp với sự kết hợp của thầy thuốc điều trị, viên chức vật lý trị liệu, bố, nhân viên công tác từng lớp.

Điều trị bằng nội khoa, giải phẫu và bình phục chức năng giúp cải thiện sự kết hợp động tác cơ và dây tâm thần, phòng ngừa hoặc làm giảm tối thiểu các rối loạn chức năng.

Ở những trẻ bại não trưởng thành: giáo dục, tư vấn, các chương trình tiêu khiển, được đến trường, nhịp việc làm, hòa nhập cộng đồng, nhu cầu cần yếu như đối với người trưởng thành bình thường, xây dựng gia đình và cuộc sống riêng.

Lời khuyên của bác sĩ

Có nhiều biện pháp phòng bệnh bại não trước sinh. Bà mẹ cần được theo dõi và quản lý thai nghén chặt chẽ; xét nghiệm nhân tố Rh, ngừa hậu quả của dị đồng nhóm máu. Nếu có dị đồng nhóm máu thì trẻ phải được thay máu hoặc điều trị vàng da ngay từ những ngày đầu sau sinh. Các bà mẹ cần được phát hiện và điều trị các bệnh kinh niên, các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục - tiết niệu, tiêm phòng bệnh Rubeol trước khi mang thai. Tránh xúc tiếp tia phóng xạ, dùng thuốc và các chất kích thích trong quá trình thai nghén. Người mẹ phải khỏe mạnh trước lúc thụ thai, trông nom trước sinh tốt, chế độ dinh dưỡng đầy đủ để tránh đẻ non tháng, thấp cân. Bảo vệ trẻ không bị các bệnh nhiễm trùng và chấn thương sọ não.

BS. KHÁNH TRANG

Share on Google Plus

About Unknown

This is a short description in the author block about the author. You edit it by entering text in the "Biographical Info" field in the user admin panel.
    Blogger Comment
    Facebook Comment

0 nhận xét:

Đăng nhận xét